Nguyên tắc chung khi đối chiếu dương lịch và âm lịch

Nguyên tắc chung khi đối chiếu dương lịch và âm lịch

NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Trước Công nguyên: sau khi chia cho 60, số còn lại, hàng chục bắt đầu từ Hai tính là Tân Hợi đi thuận sang Sửu (20), Mão (30)… hàng đơn vị đứng ngay trên đi nghịch lại.

2. Sau Công nguyên: sau khi trừ cho 3 và chia cho 60, số còn lại, hàng chục bắt đầu Giáp Tý đi nghịch (10), Giáp Tuất (20), Giáp Thân (30)… hàng đơn vị thuộc con giáp nào bắt đầu đi thuận lại.

Sanh năm m lịch muốn tìm ra Dương lịch thì lấy số tuổi của m lịch trừ đi vì m lịch thường tính trội hơn Dương lịch 1 tuổi, sau đó lấy số năm Dương lịch đang sống trừ đi số tuổi của m lịch (bớt đi 1) thì thấy số còn lại là năm sinh Dương lịch như:

Tuổi Kỷ Mão ở năm 1984 là 46 tuổi trừ bớt 1 còn lại 45 tức là 1984 trừ 45 còn lại 1939: Kỷ Mão.

Thiết tưởng, nếu cứ nói 60 Hoa Giáp diễn đi trình lại cứ thế thật quá nông cạn, còn đâu là sự dị biệt.

– Xin nói đó chỉ là một phần của nguyên đại bao gồm có 3 giai đoạn: Thượng Nguyên – Trung Nguyên – Hạ Nguyên. Tất cả có 180 năm.

Mỗi đại nguyên chỉ là 1/6 của một địa cuộc Hoa Giáp: 180 X 6 bằng 1080 năm.

Vậy 6 Hoa Giáp có 1080 X 6 bằng 6480 năm.

Vậy một thời gian dài từ Thái cổ cho đến sau này biết bao đổi thay khác nhau. Bằng ở Thế điển hình “Can-Chi” thực dụng lấy m Dương Ngũ Hành chế hóa, chuyển diễn thành muôn hình vạn trạng. Đó mới là căn bản chính của dịch lý toán học:

1. Thái Cực

2. Lưỡng Nghi

3. Tam Tài

4. Tứ Tượng

5. Ngũ Hành

Nguyên tắc chung khi đối chiếu dương lịch và âm lịch
Nguyên tắc chung khi đối chiếu dương lịch và âm lịch

– Những hành tinh diễn chuyển trên địa bàn toàn số cho thấy những điểm phác họa của một tư thế. Riêng Phúc tinh và Sát tinh đứng ở hai đòn cân so sánh độ lượng: Thọ kia đã xây dựng đến mức độ nào thì Tài nó sẽ đền đáp sao cho ngang bằng xứng đáng.

Vậy đương nhân phải biết cách nào thực thi?

– Nhân số có m có Dương; Thân luôn luôn liên hệ với Mệnh ở Mệnh, Phúc, Quan, Di, Tài và Phối. Bản tính của Dương là cường kiện chu đáo, người Dương phải hành động sao cho hợp cách ngoại giao bề rộng chữ Thọ mới ở nội tộc (Phúc), nghề nghiệp (Quan), ngoại giới (Di), sự nghiệp (Tài) và, ngoại tộc (Phôi). Người m thì buông thả dễ dãi như thuận nên chu đáo trong nội gia (hiếu cha mẹ), tài sản (Điền), phụ thuộc (Nô), anh em (Bào), con (Tử) và tai (Ách). Sự khác biệt ở chỗ người khôn kẻ dại, người làm

nhiều kẻ làm ít, trong mức độ nào cũng được Quan Phúc Thiên t luận đàm cùng Thương Sứ sau đó giao kết cuộc cho Sát tinh thừa hành nghiêm lệnh.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *